Phước cho những người trọn vẹn trong đường lối mình,
Đi theo luật pháp của Đức Giê-hô-va.
Thi Thiên 119:1.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

BÀI GIẢI KINH Ê SAI ĐOẠN 52: 13 – 53: 12



                                                              DÀN BÀI
                     ĐỀ TÀI: BÀI GIẢI KINH Ê SAI ĐOẠN 52: 13 – 53: 12                                  

GIỚI THIỆU

1. BẢN VĂN

2. PHÂN TÍCH BẢN VĂN

              2.1 Giới hạn bản văn
              2.2 Nhận định

3. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

              3.1 Bối cảnh lịch sử của bản văn

4. PHÂN TÍCH VĂN HỌC

              4.1 Cấu tạo
              4.2 Chức Năng

5. PHÂN TÍCH CẤU TRÚC

               5.1 Cấu Trúc Bản Văn
               5.2 Mục Đích Cấu Trúc

6. PHÂN TÍCH THỂ LOẠI

               6.1 Thể Loại
               6.2 Nhận định

7. PHÂN TÍCH TỪ NGỮ
              
               7.1 Từ Ngữ Quan Trọng
               7.2 Mục Đích Sử Dụng của Tác Giả

8. GIẢI NGHĨA
              
               8.1 Sứ Điệp Của Tác Giả
               8.2 Giải Nghĩa

9. Ý NGHĨA THẦN HỌC

10. ÁP DỤNG

KẾT LUẬN



GIỚI THIỆU

                    Sách Ê-sai được gọi theo tên của tác giả. Ê-sai là một tiên tri sống trong thời tiền lưu đày, vào khoảng năm 750 T.C, dưới các triều vua Giu-đa: Ô-xia, Giô-tham, A-cha, Ê-xê-chia, Ma-na-se. Tên “Ê-sai” có nghĩa là: “Sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.”[1] Cả sách Ê-sai gồm có hai phần: phần một là những lời tiên tri hình phạt và rủa sả (1 – 39), đặc biệt phần hai là sứ điệp giải cứu và ban phước của Đức Chúa Trời qua Đấng Mê-si-a (40 – 66).[2]
             Trong bài này, người viết sẽ khảo sát Ê-sai 52: 13 – 53: 12, là đoạn nằm trong phần sứ điệp giải cứu và ban phước. Ê-sai đoạn 52: 13 – 53: 12 là lời tiên tri quý báu của Kinh thánh được nhiều tín hữu yêu thích. Đây là một bài ca nói về người đầy tớ chịu khổ nạn của Đức Giê-hô-va, là bài ca cuối cùng trong loạt các bài ca về người đầy tớ nằm rải rác ở các đoạn 42: 1 – 9; 49: 1 – 13; 50: 4 – 11. Qua hình thức của một bài ca, tác giả đã trình bày cho người đọc thấy được hình ảnh một người đầy tớ chịu khổ nạn của Đức Giê-hô-va để gánh thay tội lỗi cho mọi người. Đây là bức tranh mô tả Đấng Mê-si-a chịu khốn khổ và chết thay cho con người tội lỗi, để hoàn thành chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời.

1. BẢN VĂN

              1.1 Bản Văn Ê-sai 52: 13 – 53: 12.
52
13a Này, tôi tớ ta sẽ làm cách khôn ngoan;
13b sẽ được tôn lên, dấy lên và rất cao trọng.
14a Như nhiều kẻ thấy người mà lấy làm lạ
14b (mặt mày người xài xể lắm hơn kẻ nào khác,
14c hình dung xài xể hơn con trai loài người).
15a thì cũng vậy người sẽ vảy rửa nhiều dân,
15b và các vua ngậm miệng lại vì người;
15c vì họ sẽ thấy đều chưa ai nói cho mình,
15d và sẽ hiểu biết đều mình chưa hề nghe.
53
1a Ai tin, đều đã rao truyền cho chúng ta,
1b và cánh tay Đức Giê-hô-va đã được tỏ cho ai?
2a Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi, như cái rễ ra từ đất khô
2b Người chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ;
2c khi chúng ta thấy người không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được.
3a Người đã bị người ta khinh dễ và chán bỏ,
3b từng trải sự buồn bực,
3c biết sự đau ốm,
3d bị khinh như kẻ người ta che mặt chẳng thèm xem;
3e Chúng ta cũng chẳng coi người ra gì.

4a Thật, người đã mang sự đau ốm của chúng ta,
4b Gánh sự buồn bực của chúng ta,
4c mà chúng ta lại tưởng rằng người bị Đức Chúa Trời đánh và đập,
4d và làm cho khốn khổ.
5a Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết,
5b vì gian ác chúng ta mà bị thương,
5c Bởi sự sửa phạt người chịu, chúng ta được bình an,
5d Bởi lằn roi người, chúng ta được lành bịnh.
6a Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy,
6b Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.

7a Người bị hiếp đáp,
7b nhưng khi chịu khốn khổ chẳng hề mở miệng.
7c Như chiên con câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng,
8a Bởi sự ức hiếp và xử đoán, nên người đã bị cất lấy,
8b trong những kẻ đồng thời với người có ai suy xét rằng: người đã bị dứt khỏi đất người sống vì cớ tội lỗi dân ta đáng chịu đánh phạt?
9a Người ta đã đặt mồ người với kẻ ác,
9b nhưng khi chết, người được chôn với kẻ giàu;
9c dầu người chẳng làm đều hung dữ,
9e và chẳng có sự dối trá nào trong miệng.

10a Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người,
10b và khiến người gặp đau ốm.
10c Sau khi đã dâng mạng sống người làm tế chuộc tội,
10d người sẽ thấy dòng dõi mình;
10e những ngày người sẽ thêm dài ra,
10f và ý chỉ Đức Giê-hô-va nhờ tay người được thịnh vượng.
11a Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình,   
11b và lấy làm thoả mãn.
11c Tôi tớ công bình ta sẽ lấy sự thông biết về mình làm cho nhiều người được xưng làm công bình
11e và người sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.
12a vậy nên ta sẽ chia phần người với người lớn.
12b Người sẽ chia của bắt với kẻ mạnh.
12c vì người đã đổ mạng sống mình cho đến chết,
12d đã bị kể vào hàng kẻ dữ,
12e đã mang lấy tội lỗi của nhiều người,
12f và cầu thay cho những kẻ phạm tội.

               1.2. Nhận Định

               Trong phần Kinh thánh này có nhiều từ được lặp đi lặp lại như :“Tôi tớ ta” (52: 13) “Tôi tớ công bình ta” (53: 11), “Đức Giê-hô-va,” (53: 1, 4, 10a, 10f), “Chúng ta” (53: 1, 2, 3, 4…), đặc biệt từ “Người” được dùng xuyên suốt cả đoạn 52: 13 – 53: 12.

2. PHÂN TÍCH BẢN VĂN

              2.1 Giới Hạn Bản Văn  
            
              Ê-sai 52: 13 – 53: 12 là cùng một khổ văn, vì phân đoạn 52: 13 – 15 cùng thuộc về đoạn 53. Mở đầu 52: 13 – 15 là lời giới thiệu về người đầy tớ được liên kết với đoạn 53, vì nội dung cùng nói về lịch sử của người đầy tớ Đức Giê-hô-va từ đời sống chịu khổ, chịu chết, chôn rồi kết thúc bằng sự đắc thắng vinh hiển ở cuối đoạn 53. Trước đó, các đoạn 51 – 52 nói về Giê-ru-sa-lem được cứu chuộc và được khôi phục. Sau đó, đoạn 54 là bắt đầu một phần khác, đánh dấu cho một khổ văn khác, mô tả thành Giê-ru-sa-lem được mở mang rộng lớn.

              2.2 Nhận Định

              Cốt truyện của Ê-sai 52: 13 – 53: 12 kể về sự nhập thể, đời sống chịu khổ, sự thương khó, sự chết, sự phục sinh… của người đầy tớ Đức Giê-hô-va. Tại đây, người đầy tớ chịu khổ nạn của Đức Giê-hô-va được bày tỏ là Đấng Cứu chuộc.
              Bản văn này có một số từ ngữ được sử dụng nhiều lần, để nhấn mạnh ý nghĩa của nó. Như dùng
đại từ nhân xưng: “Người,” “Chúng ta” ở dạng nhấn mạnh (53: 4 – 6) để bày tỏ lý do sự thống khổ mà người đầy tớ phải gánh chịu là vì tội lỗi của chúng ta. Nỗi đau mà người đầy tớ gánh chịu là nỗi đau của chúng ta, như một sự thay thế. Đồng thời vạch trần sự hiểu lầm của chúng ta về người đầy tớ (53: 4b).
               Dù bài ca này nằm riêng lẻ nhưng có nội dung liên quan với các bài ca nói về người đầy tớ trong các đoạn trước. Bài ca thứ nhất (42: 1 – 9) bày tỏ lòng kiên trì nhẫn nại của người đầy tớ. Bài ca thứ hai (49: 1 – 13) nói về tinh thần chấp nhận sự hao tốn công sức của người đầy tớ. Bài ca thứ ba (50: 4 – 11) nói về người đầy tớ chấp nhận sự khinh miệt, khốn khổ.

3. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
              
               Bản văn Ê-sai 52: 13 – 53: 12 nằm trong phần giải cứu và ban phước của Đức Giê-hô-va (từ đoạn 40 – 66). Đây là bài ca được viết ra trong thời kỳ Y-sơ-ra-ên và các dân ngoại phạm tội, họ bị Chúa lên án, cảnh cáo hình phạt. Vì cớ tội lỗi mà Đức Giê-hô-va hình phạt Y-sơ-ra-ên, phán xét các nước. Nhưng bởi ân điển Ngài kêu gọi ăn năn và ban lời hứa giải cứu cho họ qua Đấng Mê-si-a. Trong bối cảnh cả nhân loại đều phạm tội, bài ca này được viết ra để nói về người đầy tớ của Đức Giê-hô-va gánh thay tội lỗi, dâng mạng sống mình làm của lễ chuộc tội để Đức Chúa Trời tha thứ tội lỗi.

4. PHÂN TÍCH VĂN HỌC

               4.1 Cấu Tạo

  Đây có thể được xem là bài ca với nhiều người hát.
 
              Người hát bài ca      Đức Giê-hô-va)     52: 13 – 15      (Ngôi thứ 1, của ta)           
              Người hát bài ca      (tiên tri, dân sự)     53: 1 – 11b      (Ngôi thứ 1, chúng ta, của chúng ta)
              Người hát bài ca      (Đức Giê-hô-va)    53: 11c – 12     (Ngôi thứ 1, ta, của ta) 
         
               Trong 52: 13 và 53: 11c – 12 người rao giảng hay người hát là Đức Giê-hô-va trực tiếp nói về người đầy tớ của Ngài. Còn từ 53: 1 – 11a người hát là tiên tri nói về người đầy tớ của Đức Giê-hô-va. Nội dung của bài ca này nói về cuộc đời, chức vụ của người đầy tớ chịu khổ nạn gánh thay tội lỗi và chịu chết thay để cứu chuộc con người tội lỗi. Bài ca này là lời rao truyền của vị tiên tri (53: 1 – 11b) và là sự khải thị của Đức Giê-hô-va (52: 13 – 15, 53 : 11c – 12) bày tỏ về người đầy tớ của Ngài là Đấng Cứu chuộc.

               4.2 Chức Năng

               Cách dùng bài ca để mô tả về người đầy tớ khổ nạn, là một phương cách rất hay, vì nội dung của bài ca dễ đi vào lòng người nghe. Trong bài ca này, lời của bài ca làm cảm động lòng người qua hình ảnh người đầy tớ chịu đau khổ, thương khó, chết, chôn... vì tội lỗi của nhân loại. Tất cả để truyền tải sứ điệp cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho con người, khiến người nghe có thể hiểu và chấp nhận sứ điệp cứu chuộc của Đức Chúa Trời.

5. PHÂN TÍCH CẤU TRÚC

5.1      Cấu Trúc Bản Văn
             Cấu trúc bài ca này có thể được chia thành 5 khổ theo cách song đối trong thơ văn Hê-bơ-rơ, mỗi khổ có 3 câu.

              52: 13 – 15      Sự cao trọng của người đầy tớ

              53: 1 – 3          Người đầy tớ chịu khổ, bị khước từ

              53: 4 – 6  :       Người đầy tớ gánh thay tội lỗi cho mọi người     à Đây là phần trung tâm
                 
              53: 7 – 9          Người đầy tớ chịu chết, bị loại trừ

              53: 10 – 12      Kết quả vinh hiển của người đầy tớ
             
             Cấu trúc bài ca này được liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung lẫn nghệ thuật, vì tất cả các phần đều mô tả cuộc đời người đầy tớ của Đức Giê-hô-va. Các phần của cấu trúc bài ca có sự tương ứng với nhau qua ý tưởng chính.[3] Bài ca được mở đầu và kết thúc bằng sự vinh hiển cao trọng của người đầy tớ (Phần thứ nhất và cuối). Phần thứ hai và thứ bốn có ý tưởng giống nhau khi nói về người đầy tớ chịu khổ và chịu chết. Phần thứ ba (53: 4 – 6) là trọng tâm vì giải bày ý nghĩa của sự chịu khổ của người đầy tớ, lý do người đầy tớ phải chịu khổ là để chuộc tội lỗi cho mọi người. Phần cuối bày tỏ sự đắc thắng vinh hiển của người đầy tớ sau khi hoàn thành ý muốn của Đức Chúa Trời tương ứng với phần đầu tiên.[4]
              Điều đáng chú ý là mỗi khổ thơ được bắt đầu bằng một từ hoặc cụm từ đầu tiên để tóm tắt ý nghĩa của cả khổ thơ, và trở thành đầu đề cho khổ thơ ấy. Ở khổ thơ đầu tiên sau từ “Này” (có nghĩa là hãy nhìn xem, hay coi kìa) mở đầu, cụm từ “Tôi tớ ta sẽ thạnh vượng” không chỉ trở thành phần tóm tắt cho khổ thơ thứ nhất mô tả việc người tôi tớ được tôn cao, mà còn là đề tài cho cả lời tiên tri như chúng ta sẽ thấy.[5] Khổ thứ hai bắt đầu bằng câu “Ai tin,” và phù hợp với nội dung của nó, vì khổ này mô tả sự vô tín và không chịu suy nghĩ của những kẻ được thấy người đầy tớ nhưng không chịu tin và không hiểu biết ý nghĩa sự chịu khổ của người đầy tớ. “Thật (có nghĩa chắc chắn là) người đã mang sự đau ốm của chúng ta” là đầu đề thích hợp cho khổ thứ ba mô tả sự khổ nạn của người đầy tớ thay thế cho chúng ta như thế nào. “Bị hiếp đáp nhưng chẳng hề mở miệng” là đề mục của khổ thứ tư, vì khổ này đề cập đến sự khiêm nhường và vô tội của người đầy tớ, tương phản với sự bất công đã được áp dụng đối với mình. Còn đầu đề của khổ thứ năm là “Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý” (Đức Giê-hô-va định trước) cho chúng ta biết ý chính của khổ thơ, tức là nói rằng ở đằng sau cách thức con loài người đối xử với người đầy tớ, đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời.[6]
                                 
6. PHÂN TÍCH THỂ LOẠI
         
6.1      Thể Loại

              Đây là thể loại thơ ca, một bài ca về người đầy tớ của Đức Giê-hô-va.
              Sau đây là gợi ý về thể loại và cấu trúc của người viết:
              Bài ca này thuộc thể loại tiên tri, là sự dự báo trước về chức vụ của một người đầy tớ Đức Giê-hô-va.
              Chủ đề: thể loại tiên tri

              A. Giới thiệu người đầy tớ Đức Giê-hô-va                            52: 13 – 15
                             i. Khôn ngoan                                                          52: 13a
                             ii. Cao trọng                                                             52: 13b
              B. Hình dung của người đầy tớ Đức Giê-hô-va                      53: 1 – 3
                             i. Hai câu hỏi tu từ
                                         a) Ai tin lời rao truyền của chúng ta?                    53: 1a
                                         b) Cánh tay Đức Giê-hô-va đã được tỏ cho ai?     53: 1b
                             ii.  Như cái chồi từ đất khô                                                53: 2a
                             iii. Không có sự đẹp đẽ                                                      53: 2b
              C. Chức vụ của người đầy tớ Đức Giê-hô-va                           53:  4 – 6
                 i.  Mang sự đau ốm và gánh buồn bực                       53: 4ab
                 ii. Chịu khốn khổ                                                       53: 4c
                 iii. Gánh thay tội lỗi                                                   53: 5 – 6
              D. Sự chết của người đầy tớ Đức Giê-hô-va                            53:  7 – 9
                             i. Như chiên bị dắt đến hàng làm thịt                         53: 6b
                             ii. Chịu chết vì tội lỗi dân sự                                      53: 8c
              E. Kết quả chức vụ của người đầy tớ Đức Giê-hô-va               53:  10 – 12
                             i. Làm một của lễ chuộc tội                                        53: 10c
                             ii. Hoàn thành ý chỉ của Đức Giê-hô-va                     53: 10
                             iii. Xưng công bình cho nhiều người                          53: 11

              6.2  Nhận Định

              Tác giả đã sử dụng hình thức một bài ca để nói tiên tri về người đầy tớ của Đức Giê-hô-va là Đấng Mê-si-a. Với một lời văn đầy thương tiếc và hối hận, tác giả trình bày các nổi khổ, sự đau đớn, sự chết… mà Đấng Mê-si-a gánh chịu vì tội lỗi của chúng ta. Đấng Mê-si-a đã mang lấy hình dạng một người đầy tớ bị khinh dễ để thi hành chức vụ nhập thể, chịu khổ, chịu chết, chịu chôn… để cứu chuộc nhân loại theo ý chỉ của Đức Chúa Trời.
            52: 13. Ngôn ngữ xưng hô ở phần đầu và cuối bài ca là của chính Đức Giê-hô-va trực tiếp nói về người đầy tớ của Ngài: “ Tôi tớ Ta” (52: 13), “Của Ta” (53: 11), “Ta” (53: 12).
            53: 1 – 6... Ngôn ngữ xưng hô ở phần giữa bài ca là lời của vị tiên tri nói về người đầy tớ chịu khổ nạn: “Chúng ta,” “Của chúng ta” (53: 1 – 6).
            53: 1. Trong câu 1 tác giả đã dùng hai câu hỏi tu từ. Các câu hỏi này không dùng với mục đích để được trả lời, nhưng dùng để cho thấy sự ngạc nhiên về người đầy tớ và để nhấn mạnh sự lạ lùng của người đầy tớ ngoài sức tưởng tượng của con người.
            53: 4 – 6. Cách dùng các đại từ nhân xưng “Người” và  “Chúng ta” được đặt song đối nhau.[7]
            53: 4 – 7. Có những cặp câu song đối về ý nghĩa, chúng được biến đổi và lặp lại. Có những chữ, những câu giống nhau thường được lặp lại và được đặt vào vị trí đối đáp lẫn nhau. VD: như hai lần từ “Nhiều,” hai lần cụm từ “Hết thảy chúng ta, chúng ta thảy đều,” “Chẳng từng mở miệng, chẳng hề mở miệng,” “Mang, gánh lấy”... Việc nhắc đi nhắc lại những từ, cụm từ này để diễn tả sự thương tiếc, trách móc và nhắc lại những điều đau buồn, đáng tiếc.[8] Điều này gây ấn tượng sâu đậm cho người đọc về nỗi thống khổ của người đầy tớ Đức Giê-hô-va...
            53: 6 – 7. Trong một số câu, tác giả đã dùng phương pháp so sánh như: khi mô tả con người lầm
lạc trong tội lỗi thì được nói là “Như chiên đi lạc” (53: 6). Trong sự kiện Chúa tự phó mình chịu chết vì
tội chúng ta, tác giả đã so sánh Chúa bị dắt đi “Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt,” và giống “Như
chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông” (53: 7)...
            53: 1 – 12. Tác giả nhắc đi nhắc lại 29 lần chữ “Người” để mô tả về người đầy tớ.[9]
             Trong suốt bài ca, tác giả chỉ nói đến tên nhân vật chính là đầy tớ của Đức Giê-hô-va 2 lần (52:
13, 53: 11), còn lại chỉ được đề cập bằng chữ: “Người.”
7. PHÂN TÍCH TỪ NGỮ

                 Có một số từ cần xem xét sau đây:
                “Đầy tớ của Đức Giê-hô-va”: ở đây là nói về một cá nhân chứ không phải một tập thể, tính cách cá nhân của người đầy tớ được biểu lộ rõ rệt từ sự ra đời, sự khốn khổ, sự chết, sự chiến thắng… đó chính là Đấng Mê-si-a.[10]
               “Người”: (53: 2) ở đây là đầy tớ của Đức Giê-hô-va, là Đấng Mê-si-a.
               “Chúng ta”: người được chọn bao gồm dân tuyển và dân ngoại.
               “Khốn khổ, đau khổ” (53: 4d, 7b, 11a): theo Kinh thánh đau khổ được xem là hậu quả của tội lỗi dưới hình thức đau đớn, hư hoại, chết chóc... Người đầy tớ Đức Giê-hô-va, Đấng hoàn thành sự cứu chuộc đã chịu khổ thay cho nhân loại, để cứu nhân loại ra khỏi mọi đau khổ, hư hoại, tội lỗi, chết chóc.[11]
               “Tôi tớ ta”: (53: 12) là đầy tớ của Đức Giê-hô-va, là Đấng Mê-si-a.
               “Xài xể”: nói đến hình dung xấu xí của người đầy tớ.
               “Vảy rửa”: của lễ đền tội của người đầy tớ dâng lên sẽ tẩy sạch tội lỗi cho mọi người.
               “Đất khô”: có nghĩa môi trường xung quanh của Chúa không cung cấp cho Ngài bất cứ điều gì. Ngài sinh ra trong một gia đình nghèo, nơi một thị trấn bị khinh dễ.[12]
               “Chồi”: Chúa Jesus là chồi nứt ra từ Y-sơ-ra-ên, mặc lấy nhân tánh và ra đời từ dòng dõi nhà Đa-vít.[13]                                                                 
               “Chiên đi lạc”: (53: 6) là tội nhân  không theo đường lối của Đức Chúa Trời.                                                                      
               “Tế chuộc tội: theo nguyên nghĩa có 3 ý: 1/. Che phủ. 2/. Thay thế: chịu chết thế cho con người  tội lỗi 3/. Vãn hồi: làm nguôi cơn giận của Đức Chúa Trời.[14]
               “Xưng công bình”: tuyên bố vô tội.
Mang” và “Gánh lấy...”: Chúa đã tự ý đón nhận các hậu quả của tội lỗi dân sự mình.
Mang lấy đau ốm”: chữa lành bệnh chúng ta bởi quyền năng thần thượng.
               “Buồn bực”: là đau khổ.
               “Ốm đau”: là bệnh tật. 
              “Tội lỗi”: là tên gọi bao hàm chung các sự vi phạm, tội ác, việc làm sai trái và mọi điều gian ác.

8. GIẢI NGHĨA

A.          Sứ Điệp Của Tác giả

               Trong Ê-sai 52: 13 – 53: 12, tiên tri Ê-sai đã trình bày sứ điệp cứu rỗi cho Y-sơ-ra-ên và các dân ngoại. Đây chính là Phúc Âm cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại qua một vị cứu tinh là Đấng Mê-si-a đã mang lấy hình người đầy tớ để thi hành chức vụ nhập thể, chịu khổ, chịu chết, chịu chôn, phục sinh… để cứu chuộc cả nhân loại theo ý chỉ của Đức Chúa Trời.

B.           Giải Nghĩa

52: 13 Này, tôi tớ ta sẽ làm cách khôn ngoan; sẽ được tôn lên, dấy lên và rất cao trọng: Đấng Christ
được tôn cao và được nhắc lên và rất cao trọng, Ngài hành động cách khôn ngoan và được thịnh vượng.
14 Như nhiều kẻ thấy người mà lấy làm lạ (mặt mày người xài xể lắm hơn kẻ nào khác, hình dung
xài xể hơn con trai loài người). Khi con người xem thấy người đầy tớ khác với những gì họ mong đợi,
thì lấy làm kinh ngạc.
15 thì cũng vậy người sẽ vảy rửa nhiều dân, và các vua ngậm miệng lại vì người; vì họ sẽ thấy đều
chưa ai nói cho mình, và sẽ hiểu biết đều mình chưa hề nghe. Hiệu năng sự cứu chuộc của Đấng Christ có giá trị cho cả nhân loại. Con người đã bị người đầy tớ làm cho choáng váng.
53: 1 Ai tin đều đã rao truyền cho chúng ta: Lời rao truyền của nhà tiên tri đã bị khước từ, và cánh tay Đức Giê-hô-va đã được tỏ cho ai? là quyền năng của Đức Giê-hô-va. Khi Chúa từ Na-xa-rét đi ra rao giảng Phúc Âm, đó là sự tỏ ra của quyền năng Đức Giê-hô-va cho nhiều người. Nhưng họ không nhận biết Ngài vì họ không thấy Ngài là chính Đức Giê-hô-va đến trong quyền năng để cứu họ. Tại sao họ không tin lời rao truyền và tiếp nhận khải thị về Đấng Mê-si-a? Vì cớ: câu 2 giải thích
2: Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi,: là cây non mềm mại, nhỏ bé, mong manh Chúa là một người khiêm nhường không ai chú ý đến Ngài. Như cái rễ ra từ đất khô: tượng trưng cho môi trường khó khăn, Chúa được sinh trưỏng trong một gia đình nghèo, trong một vùng đất bị khinh dễ.
Người chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ; khi chúng ta thấy người không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được: Chúa không có vẻ oai nghi khiến người ta thán phục và diện mạo đẹp đẽ cho người ta ưa thích. Đây là sự nhận biết Chúa theo nhân tính, chứ không theo Thần tính. Trong nhân tính Ngài là cái rễ ra từ đất khô, chồi từ gốc Gie-sê (Ê 11: 1), một nhánh dẫn đến Đa-vít (Giê 23: 5, 35: 15), là một người và là Tôi tớ của Đức Giê-hô-va, ra từ dòng dõi Đa-vít.
3 Người đã bị người ta khinh dễ và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự ốm đau bị khinh như kẻ người ta che mặt chẳng thèm xem; Chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. Đây là những nỗi đau về thể xác và tinh thần mà Chúa phải gánh chịu.
4 Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, gánh sự buồn bực của chúng ta: Chúa mang sự đau ốm của chúng ta vào thời điểm Ngài bị Đức Chúa chất tất cả tội lỗi chúng ta trên Ngài (53: 6). Trong sự chết thay cho chúng ta, Ngài đã mang các sự đau ốm của chúng ta và gánh sự buồn bực của chúng ta.
mà chúng ta lại tưởng rằng người bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ: con người phán đoán rằng những sự đau đớn, khổ nạn của Chúa là do bị Đức Chúa Trời hình phạt.
5 Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì gian ác chúng ta mà bị thương, Bởi sự sửa phạt người chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi người, chúng ta được lành bịnh. Đây là sự chữa lành cả tâm linh lẫn thể xác.[15] Các chữa lành trên con người sa ngã là kết quả sự cứu chuộc của Chúa trên thập tự giá. Ngài đã cất những đau yếu của chúng ta, gánh các bệnh tật chúng ta, thực hiện sự chữa lành trên chúng ta. Tuy nhiên trong thời đại này, việc áp dụng quyền năng chữa lành thần thượng cho chúng ta chỉ là tiền vị, trong thời đại hầu đến chúng ta sẽ kinh nghiệm trọn vẹn phép lạ này.
6 Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy, Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người: Đức Chúa Trời đã đặt tất cả tội lỗi của chúng ta trên Đấng Christ, nhận Ngài làm Đấng thay thế chúng ta cách hợp pháp theo luật pháp của Đức Chúa Trời. Vì vậy, Đấng Christ đã chết một cái chết thay thế, với tư cách là Đấng thay thế tội nhân chịu chết và được Đức Chúa Trời công nhận và chấp thuận theo luật pháp.
7 Người bị hiếp đáp: Chúa bị bắt trói tại vườn Ghết-sê-ma-nê, đó là sự hiếp đáp, áp bức, là con người Chúa có nhân quyền, Ngài không làm gì sai trái, vì vậy bắt giữ Ngài là hiếp đáp.
Nhưng khi chịu khốn khổ: Sau khi bị bắt giữ, Chúa bị xét xử trước hết bởi các lãnh đạo Do-thái sau đó
là quan chức La-mã. Trong khi bị xét xử Chúa người ta vu cáo, đánh, hành hạ, chế giễu, nhổ trên Ngài, đây là sự khốn khổ.
chẳng hề mở miệng. Như chiên con câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng: Chúa không chỉ bị dẫn đến hàng làm thịt nhưng còn bị hớt lông bởi những kẻ hớt lông Do-thái. Dù vậy, Ngài không phản ứng chống lại. Ngài không biện luận, không minh oan hay biện minh cho Ngài, thay vì thế Ngài im lặng chịu khổ. Điều này làm cho Phi-lát ngạc nhiên.
8 Bởi sự ức hiếp và xử đoán nên người đã bị cất lấy: Chúa bị sự ức hiếp, áp bức của các nhà lãnh đạo
Do-thái giả hình và bị sự xử đoán bất công của quan chức La-mã, nên Ngài đã bị giết.
trong những kẻ đồng thời với người có ai suy xét rằng: người đã bị dứt khỏi đất người sống vì cớ
tội lỗi dân ta đáng chịu đánh phạt?: Điều này nghĩa là có rất ít người (hoặc không có ai) hiểu rằng vì
cớ tội lỗi chúng ta mà Chúa bị bắt bớ, bị xét xử và bị giết chết. Ngay cả những kẻ ở với Chúa khi Ngài chịu chết cũng không hiểu Ngài chết cho họ. Sự đánh phạt lẽ ra dân Do-thái phải chịu, thì bây giờ đổ lại
trên Ngài. Chúa đã chịu chết vì chúng ta!
9 Người ta đã đặt mồ người với kẻ ác, nhưng khi chết, người được chôn với kẻ giàu; dầu người chẳng làm đều hung dữ và chẳng có sự dối trá nào trong miệng: Những kẻ đóng đinh Chúa định  chôn Ngài chung với hai phạm nhân là những kẻ ác. Nhưng cuối cùng trong sự tể trị của Đức Chúa Trời, Chúa đã được chôn trong mộ của người giàu (Math 27: 57 – 60). Chúa không có phạm tội trong hành động cũng như trong lời nói, nhưng người ta đã đối xử với Ngài cách độc ác, bất công.
10 Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người, và khiến người gặp đau ốm: Trong sự chết thay thế của Chúa là Đấng thay thế tội nhân, sự đau khổ, thương khó, sự chết... của Ngài là ý chỉ của Đức Giê-hô-va.
Sau khi đã dâng mạng sống người làm tế chuộc tội: là Ngài đã tự nguyện làm cho chính Ngài thành một của lễ vì tội lỗi chúng ta.
người sẽ thấy dòng dõi mình: dòng dõi ở đây bao gồm tất cả những người tin Chúa được sản sinh từ hạt giống là Chúa xuyên qua sự chết và phục sinh của Ngài (Giăng 12: 24).[16] Ngày nay Hội thánh là dòng dõi Ngài là sự gia tăng và mở rộng của Ngài.
những ngày người sẽ thêm dài ra: có nghĩa là “kéo dài vô tận,” không chỉ nói về sự sống đời đời mà còn nói về quyền cai trị của Đấng Christ nữa.[17] Ngày nay, các ngày của Chúa cũng được kéo dài ra bởi Ngài đang sống trong các tín hữu.
và ý chỉ Đức Giê-hô-va nhờ tay người được thịnh vượng: Sự chết của Chúa không chỉ là trường hợp chết thay hay cán cân công lý của loài người bị lệch lạc mà thôi. Nhưng còn là ý muốn, là chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
11 Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thoả mãn: Kết quả của sự chịu thống khổ, chết thay thế và phục sinh là dòng dõi của Ngài, đây là niềm vui thoả của Đức Chúa Trời và sự thoả mãn của Ngài.
Tôi tớ công bình ta sẽ lấy sự thông biết về mình làm cho nhiều người được xưng làm công bình và người sẽ gánh lấy tội lỗi của họ: vô số người được Đức Chúa Trời xưng công bình qua ơn cứu rỗi của Chúa Jesus.
12 Vậy nên ta sẽ chia phần người với người lớn. Người sẽ chia của bắt với kẻ mạnh. Người lớn và kẻ mạnh ở đây là Đức Chúa Trời. Chúa Jesus (nhân tánh) được tôn cao làm Chúa của cả trời và đất, ngang hàng với Đức Chúa Trời (Phi líp 2: 5 – 11).
vì người đã đổ mạng sống mình cho đến chết: từ “mạng sống” có nghĩa là “hồn,” trong sự chết Chúa đã bỏ mạng sống mình để làm của lễ chuộc tội. Trong mọi của lễ, nếu đó là một sinh tế, đều phải bị giết và huyết phải đổ ra, khi ấy sinh tế đó mới được Đức Chúa Trời chấp nhận. Trong sự chết của Chúa, Ngài cũng đã đổ mạng sống Ngài theo cách như vậy.
đã bị kể vào hàng kẻ dữ: Chúa đã bị đóng đinh giữa hai phạm nhân, vì vậy Ngài bị chính quyền La-mã và những người đương thời kể Ngài vào hàng tội phạm.
đã mang lấy tội lỗi của nhiều người, và cầu thay cho những kẻ phạm tội: Khi ở trên thập giá Chúa gánh thay tội lỗi của cả nhân loại và Ngài không chỉ cầu thay cho các môn đồ, cho hai kẻ phạm tội bên cạnh mà Ngài cũng cầu thay cho cả những kẻ đang giết Ngài.
                            
9. Ý NGHĨA THẦN HỌC

               Ý nghĩa thần học của cả đoạn: Nói về Đấng Mê-si-a là Cứu Chúa của cả nhân loại qua hình ảnh một tôi tớ chịu khổ nạn của Đức Giê-hô-va trong đời sống và chức vụ của Ngài như:
               Nhập thể: Là sự hiện đến của Đấng Mê-si-a trong thân xác con người. Chúa Jesus đã mặc lấy nhân tính giống như con người để đến thế gian hoàn thành sứ mạng cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho con người. Đoạn Kinh thánh Ê-sai 52: 13 – 53: 12 bày tỏ cho chúng ta biết về Đấng Mê-si-a đã mặc lấy hình tôi tớ, để cứu chuộc con người tội lỗi. Đấng Christ trở thành nhục thể để thực hiện lời hứa của Đức Chúa Trời. Lời hứa này chạy suốt qua Cựu Ước ngay khi loài người phạm tội (Sáng 3: 15).[18] Ê-sai đoạn 52: 13 – 53: 12 là một lời tiên tri rõ ràng nhất về nhập thể của Chúa Jesus.
              Sự chuộc tội: Sự chết của Đấng Mê-si-a là sự chuộc tội cho con người tội lỗi. Chính sự hiện đến và sự chết của Đấng Christ trong xác thịt là sự đảm bảo cho sự cứu rỗi của chúng ta.[19] Sự chuộc tội có nghĩa là Đấng Christ đã giải cứu con người khỏi tội lỗi bằng một giá là chính mạng sống Ngài. Sự chết của Chúa là “giá chuộc cho nhiều người” (Mác 10: 45).
               Của lễ chuộc tội: Của lễ giống như con sinh tế thời Cựu ước để chuộc tội cho tội nhân. Tại đây
người đầy tớ được mô tả vừa là của lễ vừa là Thầy tế lễ cho tội nhân.[20]
              Chịu chết: Đây là trọng tâm của sự đền tội thay cho con người. Sự chết của Ngài là một cái chết thay thế (Ês 53: 4 – 10a, 12b), vì tội lỗi chúng ta.
               Sống lại: Chúa đã đắc thắng tội lỗi, sự chết… Ngài đã sống lại trong vinh hiển. Là trái đầu mùa của sự sống lại.
               Xưng công bình (c 11b): nói về việc Đấng Christ sẽ làm cho nhiều người trở nên công chính, tức những người tin nhận Ngài.
               Dòng dõi mình: Là những người được Ngài cứu chuộc, tin nhận Ngài, ngày nay chúng ta là dòng dõi của Ngài.
              Sự cứu rỗi: Sự cứu rỗi là chủ đề chính của sách Ê-sai, là đề tài chính của đoạn 52: 13 – 53: 12. Qua đoạn Kinh thánh này chúng ta thấy Đức Chúa Trời là tác giả của sự cứu rỗi, chính Đức Chúa Trời đã giải cứu con người thông qua vị Cứu tinh là Đấng Mê-si-a. Dù trong bài ca này không trực tiếp dùng từ cứu rỗi, nhưng ý niệm về cứu rỗi thì thể hiện suốt bài ca về phương diện giải thoát khỏi tội lỗi và các hậu quả của nó.[21] Đoạn Kinh thánh này còn đề cập đến những phương diện khác nhau của sự cứu rỗi như: “Xưng công bình,” “Gánh tội lỗi,” “Cầu thay cho kẻ phạm tội.”           
              Sự phù hợp và quan trọng của đoạn 52: 13 – 53: 12 đối với sách Ê-sai: Trong phần đầu sách Ê-sai từ đoạn 1 – 39 vị tiên tri cảnh cáo Y-sơ-ra-ên rằng sự gian ác của họ sẽ bị hình phạt, cho thấy nhu cầu lớn lao của con người cần được cứu. Còn trong phần hai của từ 40 – 66 bày tỏ sự dự bị đầy ơn của Đức Chúa Trời để ban sự cứu rỗi cho Y-sơ-ra-ên và dân ngoại qua Đấng Mê-si-a. Vì vậy, phân đoạn Ê-sai 52: 13 – 53: 12 bày tỏ Đấng Mê-si-a đến chịu khổ nạn và chết thay cho tội lỗi nhân loại, để cứu chuộc nhân loại là phù hợp với nội dung của cả sách, nhất là các bài ca về người đầy tớ của Đức Giê-hô-va trước đó ở các đoạn 42: 1 – 9; 49: 1 – 13; 50: 4 – 11.
              Chúng ta thấy bài ca trong đoạn 52: 13 – 53: 12 được nằm chính giữa phần thứ 2 của sách là phần giải cứu và ban phước. Vì vậy, đoạn 52: 13 – 53: 12 chiếm địa vị trung tâm giữa các đoạn liên hệ với nó. Đó là đoạn sách nói về Đấng Mê-si-a chịu khốn khổ, gánh thay tội lỗi để cứu chuộc chúng ta. Đây là một phân đoạn rất quan trọng đối với sách Ê-sai, là Phúc Âm cứu rỗi, là tin mừng cho mọi người. 
              Học biết về ý nghĩa thần học từ đoạn 52: 13 – 53: 12: Học tập theo gương Chúa để hy sinh vì người khác. Bằng lòng chịu khổ để hầu việc Chúa, làm theo ý muốn Chúa. Tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời, tin Chúa Jesus để được tha tội, cứu rỗi. Thấy được tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta.

10. ÁP DỤNG                     

A.      BỐ CỤC BÀI GIẢNG (Bố cục đơn giản)

          Đề tài: Đấng Mê-si-a
          Kinh thánh Ê-sai 53: 1 -12

1.          Sự nhập thể của Đấng Mê-si-a

2.          Sự thương khó của Đấng Mê-si-a

3.          Sự chết của Đấng Mê-si-a

4.          Sự phục sinh của Đấng Mê-si-a
        
B.       ÁP DỤNG

             Phân đoạn Kinh thánh này có thể được dùng để truyền giảng cho thân hữu, đặc biệt giảng cho Hội thánh trong các dịp lễ Thương Khó, Phục Sinh, Tiệc Thánh, cũng như phù hợp để học Kinh thánh chung với các loạt bài về Cuộc Đời Chúa Cứu Thế… Đoạn Kinh thánh này thích hợp để nâng đỡ tín hữu trong bệnh tật, khích lệ trong lúc ngã lòng, an ủi trong đau khổ khi dấn thân hầu việc Chúa.  
           Áp dụng bài học: ngày nay con người cần phải tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời, tin nhận Chúa Jesus để được cứu rỗi và được chữa lành cả thể xác lẫn tâm linh. Bài ca này cũng là lời khuyến khích rao truyền câu chuyện Phúc Âm cho nhiều người, hầu đem họ trở về với Chúa. Tin Lành cần rao giảng ra khắp trái đất và sự chết của Chúa Jesus phải được truyền khắp nơi. Đồng thời đây là bài học hạ mình theo gương mẫu của người đầy tớ Đức Giê-hô-va, qua hình ảnh hy sinh của Chúa khiến chúng ta cảm động, yêu mến Chúa nhiều hơn.

KẾT LUẬN

              Ê-sai 52: 13 – 53: 12 là một bài ca tuyệt diệu đáng cho chúng ta ghi nhớ. Bằng những lời văn u buồn, thương tiếc, hối hận, bài ca này là lời tiên tri rõ ràng nhất về công cuộc cứu chuộc của Đấng Mê-si-a trong Cựu Ước. Những lời tiên tri này đã được ứng nghiệm hoàn toàn trong Chúa Jesus. Sứ điệp của bài ca mô tả về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời xuyên qua Đấng Mê-si-a nhập thể, chịu đau khổ, chịu chết, phục sinh. Tại đây, chúng ta nhận thấy sự cứu rỗi Đức Chúa Trời được thực hiện qua vị cứu tinh là Đấng Mê-si-a trong hình ảnh người đầy tớ. Thật, có ai trong chúng ta khi thấy được tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Kinh thánh mà không thấy lòng mình cảm động? Có ai nghĩ đến sự chết của Chúa Jesus Christ mà nước mắt mình không tuôn rơi? Vì Đức Chúa Trời đã yêu thương chúng ta đến nỗi đã ban Con Một của Ngài đến thế gian chịu chết cách đau thương để cứu chuộc chúng ta (Giăng 3: 16). Cảm ơn Ngài. Amen!




















                                  
                                       
                                  THƯ MỤC


Le, Thien V. Nguồn Sống Bất Diệt – Quyển 2. TP. Hồ Chí Minh: NXB Tôn Giáo, 2007.
Le, Phuoc V. Nghiên Cứu Các Sách Tiên Tri II. Lưu Hành Nội Bộ.
Mashall, I. Howard et al. Thánh Kinh Tân Tự Điển. Ấn bản thứ ba. TP. Hồ Chí Minh: NXB Phương
          Đông, 2009.
Macdonald, William. Kinh Thánh Chú Giải Cựu Ước. Thomas Nelson Publishes: Translate in to
           Vietnamse, 2004.
Smith, Adam. Giải Nghĩa Sách Tiên tri Ê-sai – Quyển 2. Sài Gòn: Nhà Sách Tin Lành, 1974.
Suh, Young Hwang. Thần Học Tân Ước Qua Thư Tín I Giăng. Seoul: Korea Presbyterian Theology College, 2009.

Pham, Tin X. Thần Đạo Căn Bản. Nha Trang: Thánh Kinh Thần Học Viện, 1968.
Wenham, G. H et al. Giải Nghĩa Kinh Thánh – Tập 4. Hà Nội: NXB Tôn Giáo, 2004.




[1] William Macdonald. Chú Giải Kinh Thánh Cựu Ước (Thomas Nelson Publishes: Translated in to Vietnamse, 2004), trang 840.
[2] Phuoc Le V. Nghiên Cứu Các Sách Tiên Tri II (Lưu Hành Nội Bộ), trang 13.


[3] Young Hwang Suh. Thần Học Tân Ước Qua Thư Tín I Giăng (Seoul: Korea Presbyterian Theology College, 2009), trang 6.
[4] G. H Wenham et al. Giải Nghĩa Kinh Thánh, trang112.
[5] Adam Smith. Giải Nghĩa Sách Tiên Tri Ê Sai – Quyển 2 (Sàigòn: Nhà Sách Tin Lành, 1974), trang 376.
[6] Adam Smith. Giải Nghĩa Sách Tiên Tri Ê Sai – Quyển 2, trang 376.
[7] Adam Smith. Giải Nghĩa Sách Tiên Tri Ê Sai – Quyển 2, trang 377.
[8] Adam Smith. Giải Nghĩa Sách Tiên Tri Ê Sai  – Quyển 2, trang 377 – 378.
[9] Thien Le V. Nguồn Sống Bất Diệt – Quyển 1 (TP. Hồ Chí Minh: NXB Tôn giáo, 2007), trang 178.
[10] I. Howard Marshall et al. Thánh Kinh Tân Từ Điển, trang 512 – 513. 
[11] I. Howard Marshall et al. Thánh Kinh Tân Từ Điển, trang 506.
[12] Thien Le V. Nguồn Sống Bất Diệt – Quyển 1, trang 178.
[13] Thien Le V. Nguồn Sống Bất Diệt – Quyển 1, trang 178.
[14] Thien Le V. Nguồn Sống Bất Diệt – Quyển 1, trang 223.
[15] Thien Le V. Nguồn Sống Bất Diệt – Quyển 1, trang 214.
[16] Thien Le V. Nguồn Sống Bất Diệt – Quyển 1, trang 184.
[17] Thien Le V. Nguồn Sống Bất Diệt – Quyển 1, trang 185.
[18] Tin Pham. X. Thần Đạo Căn Bản (Nha trang: Thánh Kinh Thần Học Viện, 1968), trang 138.
[19] I. Howard Marshall et al. Thánh Kinh Tân Từ Điển, trang 1289 – 1290.
[20] G. H Wenham et al. Giải Nghĩa Kinh Thánh, trang115.
[21] I. Howard Marshall et al. Thánh Kinh Tân Từ Điển, trang 438 – 439.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét